Thavon2002
      Nguyên liệu thiên nhiên
Vitamin



Vitamin A : Rentinol đối với Retin-A và Renova

Retinol là tên khoa học của Vitamin A và, ngoài việc được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm chăm sóc da gần đây, với quảng cáo là có thể trị nếp nhăn, Vitamin A thật ra cũng chẳng còn mới mẻ gì.

Retinol trở nên nổi tiếng rất nhanh sau khi Retin -A dẫn đầu như là một loại kem thuốc để trị nếp nhăn vào những năm 1987. Thành phần hoạt động trong Retin-A (và Renova) là Tretinoin, là một trans -retinoic acid - một dạng acid của Vitamin A. Các công ty mỹ phẩm đã chớp lấy thông tin này để thuyết phục người tiêu dùng rằng một sản phẩm Retin-A cũng có thể đem lại những hiệu quả tương tự như một sản phẩm có chứa Retinol. Cả hai đều liên quan đến Vitamin A và chúng hầu như giống hệt nhau. Và rất quan trọng để chúng ta thảo luận về vai trò, nếu có, của Retinol trong các sản phẩm chăm sóc da.

Có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Tretinoin có hiệu quả trên da. Da bị già cỗi do ánh nắng mặt trời, khói thuốc hoặc do tuổi tác và kết quả là các nếp nhăn xuất hiện, da bị sần sùi, nhão xệ, đổi màu và teo đi. Bề mặt da xuất hiện nhiều nếp gấp, có nguyên nhân chủ yếu là do các tế bào bị hủy hoại. Một bài viết trên tạp chí Clinics in Geriatric Medicine (November 2001, pages 643-659) đã cho rằng “Một số nghiên cứu đã chứng minh được Tretionin tổng (tất cả các trans-acid retinoic) có thể ngăn chặn được bệnh lão hóa da do ánh sáng (photoaging pathophysiology).

Nhưng còn Retinol có hiệu quả về gì trên da? Có một bằng chứng - tuy còn hạn chế – đã khẳng định rằng Retinol có thể thực hiện những hoạt động tương tự như Tretinoin trên da. Vấn đề ở đây là, khi vào bên trong da, Tretinoin (tất cả các trans-acid retinoic) tác động lên sự sinh sản tế bào bằng cách gắn với các thụ thể Tretinoin trên tế bào. Còn Retinol, để làm được những việc tương tự, nó cần được chuyển thành Tretinoin trong da. Theo giả thiết, Retinol có thể chuyển thành dạng Tretinoin trong da, nhưng quá trình không trực tiếp. Retinol được hấp thụ vào trong da và nếu có mặt enzyme, nó có thể bị chuyển đổi thành Tretinoin sau đó. Tuy nhiên, đây chỉ là giả thiết, chưa có kết quả nghiên cứu rõ ràng. (Nguồn: Journal of Investigative Dermatology, 1998, trang 478-484; Skin Pharmacology and Applied Skin Physiology, tháng 11-12, 2001, trang 363-372).

Một điểm nữa, nên nhớ rằng ngay cả khi Retin –A và Renova (cũng có chứa Tretinoin) không hề đem lại kết quả như các công ty bán sản phẩm Retinol chực chờ. Nói một cách nghiêm túc, Neutrogena, hãng bán sản phẩm Retinol, đã khoác lác về hiệu quả chống nếp nhăn của Retinol, được quản lý bởi Johnson &Johnson, cũng là chủ sở hữu của công thức có Retin A và Renova. Nếu Retinol tác dụng tốt như trên nhãn quảng cáo của Neutrogena, thế thì tại sao sau đó, bạn lại cần sử dụng Retin A hay Renova tiếp? Có lẽ Johnson &Johnson hi vọng là không ai chú ý đến mâu thuẫn này.

Vitamin C

Từ lúc Linus Pauling - người từng đoạt giải Nobel - viết quyển sách Vitamin C và những bệnh cảm thông thường vào năm 1970, Vitamin C trở nên rất được ưa chuộng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Số lượng các nghiên cứu về Vitamin C chiếm đầy các tạp chí khoa học. Vitamin C cần thiết cho sự hình thành collagen trong da, giúp duy trì khả năng sống của các tế bào bạch cầu, mô liên kết, xương và mô sụn trong cơ thể. Vitamin C cũng cần thiết cho quá trình kéo lành vết thương vàgiúp vết bỏng mau lành hơn.

Mặc dù thông tin về Vitamin C như là một dạng thực phẩm bổ sung xuất hiện đầy rẫy, chúng ta không thể nói Vitamin C sẽ có tác dụng tương tự đối với các nếp nhăn trên da cũng như đối với sự lão hóa.
Trong lĩnh vực chăm sóc da, vitamin C trở nên được tôn vinh sau khi Dr. Sheldon Pinnell ở trường Đại học Duke công bố một tài liệu vào năm 1992, chỉ ra rằng L- Acid ascorbic làm giảm bớt các hư tổn do tia UVB gây ra (như nổi mẩn đỏ và sưng rộp) trong một thử nghiệm thoa Vitamin C lên lưng của một con lợn không có lông. Đó thật sự là một tin lớn và sau đó các dòng sản phẩm khác nhau dựa trên L- ascorbic acid đã liên tục ra đời.

Một vị bác sỹ khác, như bác sỹ N.V Perricone, M.D (người có một dòng sản phẩm mang tên ông ấy) đã giới thiệu Magiesium ascorbin photphate như là một dạng tốt nhất của Vitamin C cho da. Tuy nhiên, vẫn có những khẳng định khác cho rằng Axit ascorbic là tốt nhất và ổn định hơn. Phần lớn các thông tin này có nguồn gốc từ những nhà nghiên cứu, cũng đồng thời là những người có liên quan đến việc bán các sản phẩm Vitamin. Vì thế dạng vitamin C nào là tốt nhất hoặc dạng vitamin C nào thích hợp nhất cho da vẫn còn là một câu trả lời rất mập mờ.

Một bài viết trong tạp chí Plastic and Reconstructive Surgery (tháng 1 năm 2000, trang 464-465) đã thảo luận về đề tài Vitamin C và kết luận rằng “Vitamin C là một chất có khả năng chống oxi hóa và là một nhân tố bảo vệ chống lại những hư tổn do tia UVA, UVB từ ánh sáng mặt trời…Mặc dù uống Vitamin C cũng có thể có ích, nhưng để điều trị cục bộ trên một vùng nào đó thì cần một liều lượng cao hơn.

Thực tế là Vitamin C không hấp thu hay ngăn chặn tia tử ngoại gây hại như ánh sáng mặt trời. Thay vào đó, nó làm cho da tăng khả năng trung hòa các dạng oxi đơn phân tử (là các gốc tự do gây hại được tạo ra bởi tia tử ngoại), vì thế, ngăn chặn sự hư tổn của da. Vitamin C trở thành một phần không thể thiếu của da và tồn tại, không bị ảnh hưởng khi tắm, tập thể dục, mặc quần áo hay trang điểm.

Nếu được sử dụng đúng, vitamin C là một trợ thủ quan trọng để bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời, điều trị các vết đỏ trên da, làm chất chuyển hóa cho Retin A trong điều trị các nếp nhăn và kích thích sự kéo lành vết thương.
Tuy nhiên, dạng Vitamin C nào là tốt nhất cho da thì không có câu trả lời rõ ràng. Các nghiên cứu thì mâu thuẫn nhau cho rằng không có cách nào để biết được dạng Vitamin C nào là tốt nhất. L- ascorbic acid thường được lựa chọn, nhưng một số nghiên cứu cho rằng nó là một chất ít ổn định, thường nhạy cảm với pH và nồng độ các chất khác trong môi trường.

Một số nghiên cứu khác thì cho một dạng khác của Vitamin C là Magnesium ascorbyl phosphat được xem là ổn định hơn và có cũng có hiệu quả chống oxi hóa. Một ít nghiên cứu còn cho rằng Magnesium ascorbyl phosphat có tác dụng làm sáng da. Nếu xét về mặt ổn định, Ascorbyl palmitate được xem là ổn định hơn.

Mặt khác, Axit ascorbic, dạng Vitamin C nguyên chất cũng từng được cho là có hiệu quả chống oxi hoá tốt. Tuy nhiên, Axit ascorbic tinh khiết phải được trung hòa với nước và người ta thấy là hầu hết các sản phẩm có độ ẩm môi trường cao hơn 50% thì khả năng duy trì tính ổn định của Axit ascorbic là không bảo đảm.
Một sự lưu ý thêm ở đây là Vitamin C không phải là chất chống oxi hóa tốt nhất và duy nhất. Thật ra nếp nhăn hay sự lão hoá là kết quả của sự giảm mất cả một phức, gồm Vitamin C và một số các vitamin khác, enzyme, protein, acid béo, amino acid và lipid trong da. Chúng ta nên nhìn trên một tổng thể hơn là chỉ nhìn theo một hướng.

Ngoài ra, cũng có một số các chất chống oxi hóa tốt, thậm chí còn tốt hơn Vitamin C như: Beta-glucan, Vitamin e, Vitamin A, trà xanh, chiết xuất nho, Selenium, Nghệ, Superoxide dismutase…Và theo các nhà nghiên cứu về chất chống oxi hóa, còn có hàng nghìn những chất chống oxi hóa khác chưa được khám phá ra, mà có thể là rất quan trọng.

Vitamin E và Tocotrienol

Vitamin E không còn nghi ngờ gì nữa là một trong số các vitamin được nghiên cứu nhiều nhất trong chăm sóc da và cũng là một chất chống oxi hóa được biết đến nhiều nhất, cả dưới dạng thực phẩm và trong các sản phẩm chăm sóc da. Đơn giản chỉ vì Vitamin E là một chất chống oxi hóa rất tuyệt vời.

Vitamin E là một Vitamin tan trong dầu (nghĩa là ưa thích chất béo hơn nước) và có 8 dạng khác nhau. Trong các dạng này, một số được biết như là những chất có khả năng chống oxi hoá cao khi thoa lên da, đặc biệt là alpha tocopherol và tocotrienols. (Nguồn: Free Radical Biology and Medicine, tháng 5/1997, trang 761-769; Journal of Nutrition, tháng 2/2001, trang 369S-373S; International Journal of Radiation Biology, tháng 6/1999, trang 747-755). Tuy nhiên một số nghiên cứu khác cho thấy rằng dạng Acetate cũng có khả năng sinh học và bảo vệ cho da.

Đáng lưu ý hơn về vitamin E đối với da là một bài viết trên Tạp chí Journal of Molecular Medicine (tháng 1/1995, trang 7-17) đã phát biểu rằng: “So với các mô khác, da bị phơi bày nhiều hơn dưới các tác nhân vật lý và hóa học của môi trường như tia tử ngoại, và kết quả là sự hình thành các gốc tự do gây hại, tạo ra sự oxi hóa. Điều này gây ra những hậu quả nhất thời hay lâu dài cho da như vết nám đỏ, vết rộp, da bị dầy lên, nhăn nheo và làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh ung thư. Vitamin E chủ yếu tan tự nhiên trong dầu, hoạt động chống oxi hoá bảo vệ da khỏi những tác động bất lợi của stress, sự lão hoá da do ánh nắng mặt trời. Nhiều nghiên cứu đã cho rằng Vitamin E giữ một vị trí trung tâm là một chất chống oxi hóa có hiệu quả cao, vì vậy, nó có khả năng làm giảm tần số và tính khắc nghiệt của các yếu tố gây bệnh trong da”.
Thực chất, Vitamin E trong cơ thể và trên da có vai trò là bảo vệ các tế bào chống lại các gốc tự do gây hại, mà theo giả thiết, điều này có thể làm chậm quá trình lão hóa. (Nguồn: Skin Pharmacology and Applied Skin Physiology, tháng 11-12 /2001, trang 363-372; Free Radical Biology and Medicine, tháng 10/1999, trang 729-737). Giả thuyết thì không phải là thực tế, nhưng các nghiên cứu về thành phần này thì hoàn toàn thuyết phục. Mặc dù vậy, lúc này, chúng ta vẫn chưa biết được cần có một lượng Vitamin E là bao nhiêu, Vitamin E duy trì được bao lâu và có hay không bất kỳ hiệu quả nào của Vitamin E đối với các nếp nhăn trên da.

Nếu thông tin về Vitamin E nghe có vẻ lý thú thì bây giờ bạn nên tìm hiểu một chút về Tocotrienols. Tocotrienols là một trong 8 thành phần của Vitamin E và chúng nhanh chóng trở thành một cái tên phổ biến trong thế giới chăm sóc da. Có một số nghiên cứu cho thấy Tocotrienols có nhiều hiệu lực chống oxi hóa hơn các dạng khác của Vitamin E. (Nguồn: Journal of Nutrition, tháng 2/2001, trang 369S-373S), nhưng các kết quả nghiên cứu được tiến hành trên động vật hoặc invitro.

Tocotrienols nghiên cứu trên người còn rất giới hạn và các kết quả vẫn còn nhiều mâu thuẫn. Những công ty muốn bạn tin rằng Tocotrienols là câu trả lời cho làn da thì vẫn còn đang dự đoán về kết quả áp dụng lên da người trong phòng thí nghiệm.

Cũng như những thông tin trước đây về các chất chống oxi hóa, người ta vẫn chưa biết cần có một lượng chất chống oxi hóa bao nhiêu để thoa lên da cho có hiệu quả. Các nghiên cứu ở các mức độ đầy đủ trên người để đánh giá lợi ích của Tocotrienols vẫn chưa từng được thực hiện. Vì vậy, vào lúc này, chọn Tocotrienols làm chất chống oxi hóa tốt nhất cũng chỉ là niềm tin, không phải sự thật.

Vitamin K và các vân máu

Có thể bạn đã từng thấy những mẫu quảng cáo hoặc nghe những người bán mỹ phẩm nói về hiệu quả của các loại kem và các loại dưỡng da có Vitamin K để làm giảm hoặc làm tan các vân máu (thuật ngữ kỹ thuật gọi là telangiectasias). Thực chất là các loại kem này không thể thay đổi được các vân máu, nhưng tại sao người ta suy nghĩ sai lầm như vậy?
Vitamin K trong các sản phẩm chăm sóc da được xem như là một thành phần mỹ phẩm, không phải là dược phẩm hoặc thuốc. Khi là mỹ phẩm, nó không cần thiết để các công ty chứng minh lời quảng cáo của họ về những gì Vitamin K có tác dụng. Các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả của Vitamin K trên da hay trên vân máu chỉ bắt nguồn từ các công ty bán các sản phẩm này. Trên một nguồn thông tin y dược cá nhân, Dr. Melvin Elson, cũng đồng thời là người bán các loại kem có chứa Vitamin K, đã quảng cáo rất nhiều về việc điều trị các vân máu. Thế nhưng, đây chỉ là nguồn thông tin dự đoán về hoạt động của Vitamin K từ công ty của ông ấy, Viện Nghiên cứu Mỹ phẩm, chứ không có sự công chứng hoặc một nghiên cứu kỹ càng nào để bổ sung cho kết quả có được. Bạn có thể đã mong đợi những điều rất mơ hồ.

Theo Dr. Craig Feied, MD, giám đốc Viện American Vein và Associate Clinical professor of Emergency Medicine at George Washington University, Vitamin K có liên quan đến mạch máu và máu bởi vì nó là một chất làm đông máu. Nếu bạn uống quá nhiều Vitamin K, nó sẽ làm cho máu bị đông (mà có thể dẫn dến tử vong). Sự đông máu có thể làm nghẹt dòng chảy của máu qua mạch hay mao mạch và làm cho mạch máu bị teo lại. Tuy nhiên, đóng (chấm dứt) một mạch máu hay một mao mạch trên bề mặt (vân máu), cách này có thể rất nguy hiểm.
Thoa Vitamin K lên bề mặt của da thì không việc gì cả. Nếu Vitamin K có thể thấm qua bề mặt da để tác động đến dòng chảy của máu trong các vân máu, nó cũng có thể tác động đến dòng chảy của máu trong các mạch máu khỏe mạnh.

Nếu bạn đã sử dụng sản phẩm có chứa Vitamin K rồi, đừng lo lắng, để cho Vitamin có thể làm đông máu để trị dứt vân máu, bạn cần một liều lượng lớn mà sau đó sẽ cần thiết để tiêu hóa và chuyển hoá trong gan, tạo thành các protein đặc biệt. Các protein đặc biệt này làm cho máu đông. Không phải là Vitamin K trị dứt các vân máu, mà là một sản phẩm phụ-protein- được tạo ra sau quá trình tiêu hóa.
Nếu bạn quan tâm đến điều gì thực sự loại trừ các vân máu trên da mặt thì phương pháp laser Photoderm là một giải đáp. Photoderm xóa tan các vết vân máu nhỏ bằng cách làm cho máu nóng lên tức khắc và làm đóng các mạch và khu vực xung quanh các vân máu. Cảm giác sẽ giống như bị kim châm. Phương pháp này tốt cho các vân máu nhỏ bởi vì nó xử lý chỉ trên bề mặt của da, nơi có vấn đề. Photoderm không thể xuyên sâu quá để có thể làm hại các mạch máu hoặc gây ra những bất ổn đối với các mạch máu mà bạn không muốn đụng tới. Liệu pháp màng cứng hay tiêm muối vào các mạch máu nổi cũng là một số cách khác.

Loại bỏ các vân máu là một vấn đề đang tranh cãi, nhưng ngăn ngừa chúng còn quan trọng hơn. Phơi nắng, tiếp xúc với sức nóng (như xông hơi quá lâu, Jacuzzis hay nấu ăn trong một khoảng thời gian lâu trên một bếp lò nóng), áp lực trên mặt (như hỉ mũi kéo dài,các bài tập thể dục, mát-xa mặt tương đối mạnh) sự tổn thương, khói thuốc, dị ứng, viêm do các thành phần kích ứng trong các sản phẩm chăm sóc da… tất cả có thể làm tăng sự xuất hiện của các vân máu nổi. Nếu tránh những điều này, là bạn đã có thể giảm đáng kể sự xuất hiện của các vân máu rồi đấy.
 


     Tin Khác
Lịch sử nước hoa ( 20/11/2010 )
Hoa hồng ( 14/11/2010 )
Hoa Ngọc Lan ( 14/11/2010 )
hoa Lài ( 14/11/2010 )
Glycerin ( 12/10/2010 )
Sáp ong (Bee Wax) ( 12/10/2010 )
Dầu khoáng ( 12/10/2010 )
Lanoline ( 12/10/2010 )
Dầu Olive ( 12/10/2010 )
Tảo ( 12/10/2010 )
Chất làm mềm da ( 12/10/2010 )
Trà ( 12/10/2010 )
Chất chống oxy hóa ( 12/10/2010 )
Protein ( 12/10/2010 )
Protein ( 12/10/2010 )
Collagen ( 12/10/2010 )
Vitamin ( 12/10/2010 )
Nấm men ( 12/10/2010 )
Ginko Biloba ( 12/10/2010 )
Collagen ( 12/10/2010 )
hoa lan da lat ysa